Hàng gia dụng phát triển thế nào sau hội nhập?
Sản xuất hàng gia dụng là ngành sản xuất các đồ dùng, thiết bị sử dụng trong khuôn khổ gia đình. Hàng gia dụng được đánh giá là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhờ nhu cầu của thị trường, nhất là sự mở rộng của phân khúc thị trường nông thôn. Mặc dù quy mô thị trường lên tới khoảng 13 tỷ USD, nhưng khi đối diện với ngưỡng cửa hội nhập sâu rộng, ngành hàng này làm cách nào để đối phó cạnh tranh khốc liệt từ các nước láng giềng?
Nhiều điểm yếu
Thẳng thắn nhìn nhận, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp (DN) trong ngành hàng bán sỉ đồ gia dụng nước ta so với bên ngoài đang thể hiện nhiều điểm yếu. Theo tính toán của Vụ trưởng Thị trường trong nước (Bộ Công thương) Võ Văn Quyền, hiện tại sức tiêu dùng chi cho hàng gia dụng chiếm 9% tổng gói tiêu dùng cá nhân và trong 11 nhóm ngành hàng chính, nhóm ngành hàng gia dụng đứng thứ tư về quy mô tiêu dùng. Mặt khác, tỷ lệ người tiêu dùng quan tâm đến hàng gia dụng trong nước ngày càng tăng. Thực tế, các mặt hàng mang thương hiệu Việt Nam như Rạng Đông, Điện Quang, Sơn Hà, Tân Á, Tiền Phong, Hoa Sen, Happy cook, Sunhouse, ngày càng chiếm lĩnh thị trường nhờ công nghệ, giá thành, hệ thống phân phối rộng khắp. Thị trường nông thôn cũng dần chuyển dịch từ sử dụng các đồ tự làm sang sử dụng các hàng gia dụng sản xuất, mẫu mã đẹp, giá rẻ lại bền. Trong bối cảnh hội nhập, các hiệp định thương mại (FTA) với Nhật Bản, Hàn Quốc và các đối tác khác đã ký thời gian qua mở ra cả cơ hội lẫn thách thức cho ngành hàng sản xuất của Việt Nam, trong đó có ngành gia dụng. Về thách thức, hàng gia dụng Trung Quốc giá rẻ không bị rào cản thuế sẽ tạo áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các DN Việt Nam.
Dư địa lớn
Thị trường trong nước cho hàng gia dụng của DN Việt Nam đang chiếm lĩnh dư địa lớn. Theo đánh giá của các chuyên gia, có hơn 60% tổng thu nhập cá nhân người Việt Nam được bỏ ra cho chi phí sinh hoạt gia đình, cao hơn nhiều so với Xin-ga-po (chỉ khoảng 30%). Trong đó, chi phí dành cho ngành hàng gia dụng đứng thứ hai sau chi phí dành cho ngành thực phẩm, đồ uống. Nguyên nhân là do độ thỏa dụng của cá nhân vẫn còn rất xa mới đạt được mức của người dân tại các nước phát triển. Trong bối cảnh ấy, để tồn tại, phát triển, DN ngành hàng gia dụng cần định vị được thị trường mục tiêu phù hợp với “sức khỏe” trong từng giai đoạn.
Nguyên Thứ trưởng Thương mại Phan Thế Ruệ cho rằng, không phải tới khi Việt Nam ký các AFTA, cơ hội mới đến với DN, mà đã có sẵn từ lâu tại thị trường trong nước. Nước ta có khoảng 95 triệu dân và đến năm 2020, sẽ vượt mốc 100 triệu. Cơ cấu dân số trẻ và số lượng hộ gia đình mới sẽ không ngừng tăng lên, nhu cầu các mặt hàng gia dụng ngày càng tăng lên. Bên cạnh đó, thị trường hàng gia dụng khu vực nông thôn (chiếm 70% tổng dân số) còn thiếu nhiều mặt hàng phù hợp thị hiếu và khả năng chi trả của người tiêu dùng. Nhiều DN tỏ ra ít quan tâm thị trường này vì cho rằng thu nhập thấp nhưng thực tế, việc khai thác thị trường không đơn thuần chỉ đánh giá từ thu nhập, vấn đề ở chỗ DN có đưa ra được những sản phẩm phù hợp thị hiếu và nhu cầu hay không. Chính vì vậy, song song với việc đầu tư công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng, đa dạng mẫu mã,… để khai thác phân khúc cao cấp, việc chú trọng vào thị trường bình dân, khu vực nông thôn với DN đồ gia dụng tỏ ra có khả quan.
Tiềm năng của ngành hàng gia dụng trong thời gian tới được đánh giá sẽ rất lớn. Nhưng để trụ vững và khai thác, mở rộng thị trường trong bối cảnh hội nhập lại là một bài toán không dễ dàng cho các DN Việt. Sự hiểu biết về khách hàng Việt Nam là thế mạnh của DN trong nước, nếu tận dụng lợi thế này cùng việc đầu tư sản phẩm, công nghệ cùng hệ thống phân phối để hạ giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh là một trong số các nguyên tắc cạnh trạnh cơ bản mà các DN phải chú trọng.
Thị trường ngành hàng gia dụng trong nước đạt khoảng 12,5 đến 13 tỷ USD với mức phát triển cao. Trong khi tốc độ phát triển tiêu dùng chung của cả nước thông qua bán lẻ chỉ tăng khoảng 10,65% thì nhóm ngành này đạt mức 12 đến 14%. Triển vọng của hàng gia dụng có tiềm năng rất lớn do dân số trẻ, nhu cầu lớn; thu nhập người dân tăng (hơn 2.000 USD/năm) dẫn đến thay đổi nhu cầu về chất lượng, mẫu mã.
Nguồn: Cho Vang


Nhận xét
Đăng nhận xét